Số người đang online : 28 ĐÌNH, ĐỀN VÀ CHÙA HOÀ MÃ - Danh thắng - danh nhân, văn hóa - ẩm thực Việt Nam

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

ĐÌNH, ĐỀN VÀ CHÙA HOÀ MÃ
post image
ĐÌNH, ĐỀN VÀ CHÙA HOÀ MÃ

Được công nhận di tích theo quyết định số 235-VH-QĐ ngày 12 tháng 12...


ĐÌNH, ĐỀN VÀ CHÙA HOÀ MÃ



      
1. Tên di tích: Đình, đền và chùa Hoà Mã
2. Loại công trình:  
3. Loại di tích:
4. Quyết định: Được công nhận di tích theo quyết định số 235-VH-QĐ ngày 12 tháng 12 năm 1986
5. Địa chỉ di tích: nhà số 3 - Phố Phùng Khắc Khoan - Phường Ngô Thì Nhậm - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
6. Tóm lược thông tin về di tích:


 
     Chùa Hòa Mã có tên chữ là Thiên Quang tự, thời Lê thuộc thôn Đổi Mã, phủ Phụng Thiên, đến thời Minh Mệnh đổi là thôn Hòa Mã, tổng Kim Liên, huyện Thọ Xương.
    Theo truyền thuyết và tấm bia đá hiện còn sau chùa, người đứng ra xây dựng chùa là Đào Duy Từ vào thời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1788), sau đó chùa được trùng tu lớn dưới thời Tự Đức, Thành Thái, đến năm 2008 được tu bổ tổng thể.
    Chùa Hòa Mã nằm trong một hệ thống kiến trúc bao gồm đình - đền - chùa, được xây dựng trên 1 khu đất cao bằng phẳng, gọi là gò Kim Quy. Chùa quay hướng nam gồm các hạng mục: chùa chính, nhà tổ, nhà mẫu, nhà khách.
Chùa chính  kiến trúc kiểu chữ đinh gồm tiền đường và thượng điện, tiền đường gồm 4 gian được làm lại vào năm Thành Thái thứ 17 (1905), thượng điện cũng gồm 4 gian được làm năm Tự Đức thứ 9 (1856), nhà khách 3 gian cấu trúc đơn giản, nhà tổ 5 gian. Giáp sau thượng điện là 2 tháp xây gạch để trần, gồm 3 tầng, là nơi chôn xá lị các vị sư tổ của chùa.
    Hệ thống tượng chùa Hòa Mã đa dạng và phong phú, có giá trị về điêu khắc cao, gồm: 3 tượng dạng phù điêu Tam thế thời Lê, tượng Nam Tào, Địa tạng vương Bồ Tát, Quan âm Tống tử, Thập điện Diêm Vương, Bồ đề Đạt ma, 5 pho tượng tổ của chùa,… Ngoài ra chùa còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị bao gồm bia, chuông đồng thời Nguyễn, hoành phi, câu đối, bình gốm, …
    Đền Hòa Mã, còn có tên là Lưu Ly điện, và Tiên Thiên từ (đền Tiên Thiên) ở số 3 phố Phùng Khắc Khoan, quận Hai Bà Trưng - Hà Nội.
    Thời Lê đền thuộc thôn Đổi Mã, phủ Phụng Thiên; đến đời Minh Mệnh triều Nguyễn đổi là thôn Hòa Mã, tổng Kim Liên, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội. Đình và đền Hòa Mã được xây dựng cùng lúc thành lập làng, theo truyền thuyết, tên Đổi Mã của làng trước kia là chỉ việc vua Lê trên đường đi tế đàn Nam Giao tới đây thay áo đổi ngựa trước khi vào tế ở điện Chiêu Sự.
    Theo tấm bia ở sau chùa Hòa Mã thì đình và đền do ông Năm họ Đào xây dựng lên. Ông Năm họ Đào chính là Đào Duy Từ, một danh nhân của Hà Nội và cũng là danh nhân đất nước. Đào Duy Từ là con thứ năm của vị chủ giáo phường (Phường hát) của Thăng Long. Cha con ông đã có công chiêu dân ca xướng lập làng Hòa Mã. Là con nhà phường hát, theo quy chế triều Lê -Trịnh, không được đi thi, dù ông học giỏi nổi tiếng thời bấy giờ, nên ông đã bỏ vào Nam theo chúa Nguyễn. Như vậy, theo sự tích thì đình, đền Hòa Mã có thể được xây dựng vào đời Lê Cảnh Hưng (1740-1788). Sắc phong sớm nhất hiện còn ở đình là sắc phong của đời Cảnh Thịnh thứ nhất (1793) xác minh rõ hơn về sự ra đời của đình đền Hòa Mã.


 
    Đền Hòa Mã được trùng tu lớn, niên đại được ghi trên thương lượng nhà Tiền tế “Đại Nam Bảo Đại Ất Mùi niên (1935)”.
    Đền thờ bà chúa Liễu Hạnh cùng các Mẫu trong tín ngưỡng dân gian truyền thống. Bà Liễu Hạnh đã được các triều Lê, Nguyễn thường truy phong là “Đệ nhất Thượng đẳng thần”.
    Đền Hòa Mã được xây dựng trong một quần thể kiến trúc hoàn chỉnh của mỗi làng quê Việt Nam cổ truyền. Quần thể di tích này nằm trên gò Kim Quy khá lớn. Chùa ở chính giữa, đình ở bên hữu và đền ở bên tả.
    Đến nay ngôi đền đã được qui hoạch tách biệt; tường quây bốn mặt, cổng xây gạch trên đề Hòa Mã từ (đền Hòa Mã).
    Khu đền chính xây theo kiểu chữ Công gồm hai dãy nhà ngang và một ống muống. Đền lợp ngói ta, nóc đền có lưỡng long chầu nguyệt, rồng có thân gầy nhỏ, vẩy đao to, lộ vẻ dữ tợn, kiến trúc của rồng thời Nguyễn. Những mảng chạm sâu, hình hoa lá, tứ linh, tứ quí là những đề tài phổ biến của thời kỳ này. Trước sân đền là động Sơn Trang. Pho tượng bà Chúa Thượng Ngàn ngồi chính giữa xung quanh tượng có 12 tiên cô, tay cầm những nhạc cụ cổ truyền. Và 6 pho tượng “Cậu” cưỡi ngựa, đi bộ tay cầm những đồ lễ phục vụ sinh hoạt của bà chúa Thượng Ngàn. Mẫu Thượng Ngàn là người cai quản rừng, nên toàn bộ y phục của nhóm tượng này đều là mầu xanh trầm, một trong bốn gam mầu chính của đạo Lão.
    Cạnh động Sơn Trung có 2 tháp gạch hình trụ thờ Trời Đất. Tháp xây 3 tầng, 8 mặt, tầng dưới cùng mở cửa tò vò chỉ bốn hướng nam - bắc - đông - tây. Trong đền, nơi sâu nhất và trang trọng nhất là Tam tòa Thánh Mẫu.
    Trong khám kính lớn, chạm khắc tỉ mỉ là tượng Liễu Hạnh và 2 Tiên nữ theo hầu là Thị Nương và Quế Nương.
    Đền Hòa Mã tồn tại khá nguyên vẹn, tất cả các di vật sắc phong đều được bảo quản chu đáo. Một chuông đúc năm Thiệu Trị thứ 5 (1844), trên thân chuông có 4 chữ: “Thiên Tiên điện chung” (chuông điện Thiên Tiên). Sập thờ 1 chân quì chạm trổ tứ linh (long ly qui phượng), choé sứ, độc bình... Các sắc phong từ đời Cảnh Thịnh 1 (1793) tới Đồng Khánh 2 (1887), tới Khắc Định 9 (1924).
    Quần thể di tích đình - đền chùa Hòa Mã thường mở hội vào ngày 15 tháng giêng và mồng 8 tháng 4 âm lịch hàng năm.
    Với các giá trị tiêu biểu về Kiến trúc nghệ thuật, ngày 12 tháng 12 năm 1986, Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ra Quyết định số 235-VH-QĐ xếp hạng di tích cấp Quốc gia đối với cụm di tích Đình - Đền - Chùa Hòa Mã.        


Lầu Cô    


Tượng Đức Thánh Trần đặt chính giữa ban Công Đồng


Các sắc phong từ đời Cảnh Thịnh 1 (1793) tới Đồng Khánh 2 (1887), tới Khắc Định 9 (1924)


Cung Đức vua


Chầu Bản Đền

0 Bình luận

Gửi bình luận:

Click here to cancel reply
Họ và tên
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Thư điện tử
Tỉnh thành