Số người đang online : 70 Trần Liễu - Danh thắng - danh nhân, văn hóa - ẩm thực Việt Nam

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Trần Liễu
post image
Trần Liễu

An Sinh Vương Trần Liễu

Là con trưởng Thượng hoàng Trần Thừa, anh ruột vua Trần Thái Tông, Khâm Thiên tướng quốc Thái sư Trần Nhật Hiệu và công chúa Thuỵ Bà. Ông sinh năm Canh Ngọ, niên hiệu Trị Bình Long Ứng thứ 6 (1210) tại phủ đệ Tinh Cương, phủ Long Hưng (Nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà). Ông là người có trí lớn, ngày thường thì ung dung, hào hoa, gặp việc lớn thì sắt đá. Thời loạn lạc, phụ thân phải gánh vác việc nước, trọng trách trong nhà hầu hết đều phải lo liệu.

Được hoang hậu tác thành, vua Lý Huệ Tông gả công chúa Thuận Thiên, vinh phong Phò mã đô uý, lại cấp đất A Sào để làm thực ấp, phong chức Phụng Càn vương. Ông xây phủ đệ tại A Sào (nay là phần đất hai xã An Đông và An Thái, huyện Quỳnh Phụ). Tuổi trẻ kiên nghị, Phụng Càn vương không tiếc tiền của thuê nhân công, mượn người làm, đêm ngày lăn lộn cung gia nô gia đồng khai hoang phục hóa, đào sông đắp đường, dựng đình, mở quán. Nhờ đức lớn của vương mà dân khang vật thịnh. Cả huyện A Côi thành vựa thóc(A Mễ), Đại Lẫm (kho lớn) góp hần nuôi quân. A Côi thực sự trở thành hậu thuẫn quan trọng giúp phụ thân và vương đệ (Trần Thái Tông) vững tâm dựng nghiệp.

Từ A Sào, Vương vươn ra khai thác cả vùng Phụ Phượng - Côi. Bấy giờ quận vương Thuỵ Bà (Sau được thái Tổ Trần Thừa và Trần Thái Tông phong làm công chúa) còn trẻ cung hăng hái giúp anh.

Thái ấp A Sào gắn với thời trai trẻ của Phụng Càn vương và Thuận Thiên Công chúa. Tại đây Thuận Thiên phu nhân đã sinh Vũ Thành Vương Doãn - Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung và Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương. Cuối năm 1228 Phụng Càn Vương được điều về kinh thành.

Tại Thăng Long, Thái uý Trần Liễu vừa lo việc chiều chính, vừa trực tiếp phụ trách cung Thánh Từ (Nơi ở và làm việc của Thượng Hoàng). Tháng 6 năm Bính Thân (1236), đê vỡ, nước sông tràn vào cung, nhân đi thuyền vào chầu phụ hoàng, thấy một cung nữ thời Lý xinh đẹp đang vén xiêm lội liền gọi vào cung Lệ Thiên cùng ân ái. Có người đem việc ấy hặc tấu Trần Liễu bị giáng xuống làm Hoàng vương. Sau vua cho đổi tên cung ấy thành cung “Thưởng Xuân”.

Năm Đinh Dậu (1237) Quốc Thánh phu nhân đang mang thai Trần Quốc Khang, trong khi đó vua đã 20 tuổi, hoàng hậu Lý Chiêu Hoàng cùng bằng tuổi vua, ăn ở cùng nhau 12 năm mà chưa sinh con, Thái sư Trần Thủ Độ và Linh Từ quốc mẫu lo lắng người nối dõi vương triều mà anh em họ Trần vất vả gây dựng, liền bức đưa vua đón Thuận Thiên vào cung, mạo nhận con Trần Liễu để có nối dõi. Trần Liễu phẫn uất đem quân tiên về sông Cái (Sông Hồng) làm loạn. Vua Thái Tông đau lòng trốn lên chùa Yên Tử, Thủ Độ ép vua về cung, Linh Từ vất vả dàn xếp cho trong ấm ngoài êm. Trần Thái Tông xuống tận thuyền đón anh cùng ôm nhau khóc. Trần Thủ Độ biết tin dẫn quân đến bắt, vua giấu anh trong thuyền, bảo Thủ Độ: “ Phụng Càn vương đến hàng đấy”, rồi lấy thân che đường kiếm bảo vệ anh. Thủ Độ ném kiếm xuống sông, xử hoà mắng hai cháu “ Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các ngươi thuận nghịc thế nào”…

Về sau Trần Thái Tông tuy sinh Thái Tử Hoảng (Tức vua Trần Thánh Tông), nhưng vẫn yêu quý Trần Quốc Khang, vua thay hoàng huynh chăm sóc dạy bảo, phong tới phẩm tước Đại Vương. Mùa xuân năm Đinh Dậu (1237), lấy đất Yên Phụ (Nay thuộc huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương), Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (Nay là huyện Đông Triều, Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) Phong cho Trần Liễu, vì thế từ đấy sử sách đều chép ông là Yên Sinh Vương.

Yên Sinh Vương giúp vua trấn thủ vùng Đông Bắc, từ đỉnh Yên Thụ, Yên Tử, Vương đã ra sức kiến thiết một cõi Hải Đông thành vùng giầu có, dân các huyện Kim Môn. Đông Triều, Yên Hưng nhiều nơi thờ ông làm thành hoàng. Cuộc đời An Sinh Vương sống đạm bạc, lấy việc xây trang ấp giầu mạnh, dân trang ấp no đủ làm vui, dạy các con phương trưởng là điều hạnh phúc. Trong việc Khai hoá vùng sơn dã thành một trung tâm văn hoá, khoa bảng nở rộ, tăng viện huy hoàng, đạo quán rộng khắp nổi tiếng vương triều, đề có công mở đường của An Sinh Vương.

Năm Tân Hợi, mùa hạ, tháng 4, niên hiệu Nguyên Phong thứ nhất (1251), An Sinh Vương tạ thế tại phủ đệ Yên Phụ, hưởng thọ 41 tuổi. Vua Trần Thái Tông truy phong tước Đại Vương, cho sửa chữa phủ đệ trên đỉnh núi Yên Phụ (Kim Môn, Hải Dương) thành đền Cao để thờ. Đời Hoàng Định triều Lê, vua lấy quốc khố tu sửa chùa Tường Lâm (do Đại Vương xây dựng) và đền Cao.

Tưởng nhớ công đức của Đại Vương dầy công xây dựng hương ấp A Côi, nhân dân đã dựng đền thờ Đại Vương tại ấp A Sào.

Trần Liễu sinh được 7 người con (2 trai 5 gái). Hai con ông là Trần Quốc Tung (có bản chép Trần Trung) và Trần Quốc Tuấn sinh ra từ ấp A Sào, trưởng thành lại về A Sào, Long Hưng xây dựng phòng tuyến chống giặc và đánh giặc.

Trong giai hai lần kháng chiến chống Mông-Nguyên (1285-1288) Trần Quốc Tung từng được giao quản trấn Lô Hồng (Hải Dương) sau lại giao trọng trách trấn giữ Hải Đạo Thái Bình.

Thần tích A Sào ghi: năm 18 tuổi Trần Quốc Tuấn được vua Thái Tông phong là Thượng Vị hầu (tước của con các vương) sai về trấn giữ vùng đất A Sào. Nhiều nguồn tài liệu xác định Trần Hưng Đạo có 3 sinh từ: Kiếp Bạc (nơi ông sống cuối đời), A Sào (khi ông còn là Thượng Vị Hầu sống thời niên thiếu), Tức Mạc (đất thang mộc- tắm gội để vào yết kiến Thượng Hoàng ở cung Thiên Trường). Lưu Đồn Sử Ký ghi: Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai và thứ ba, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông đã từng ở “cung Trần Vương dã ngoại Lưu Đồn” chỉ đạo cuộc kháng chiến, cũng từ đây Hưng Đạo Vương thường xuyên tới nhiều vùng đất  chiến lược ở Thái Bình. Từ cứ địa Lưu Đồn đại quân ta đã tiến ra Vạn Kiếp, Bạch Đằng đánh bại quân Mông – Nguyên.

Chiến công đánh thắng quân Mông -Nguyên thế kỷ XIII gắn liền với tên tuổi các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn- Những tên tuổi đó nhiều người sinh ra trên đất Thái Bình và yên nghỉ mãi mãi tại đây.

Quan nhà Trần

Tháng 8 âm lịch năm 1228, ông được em trai là vua Trần Thái Tông cho làm thái úy. Đến tháng 8 âm lịch năm 1234 làm phụ chính cho vua.
Gia đình

Trần Liễu có vợ là Thuận Thiên công chúa, chị của Lý Chiêu Hoàng.

Năm 1237, vì Trần Thái Tông lấy Lý Chiêu Hoàng mãi không có con, Trần Thủ Độ đưa Thuận Thiên, lúc ấy đã có mang ba tháng vào làm hoàng hậu. Đứa trẻ sinh ra là Trần Quốc Khang.

Trước tình cảnh đó, Trẫn Liễu phẫn uất họp quân làm loạn. Trần Thái Tông chán nản bỏ đi lên Yên Tử. Sau Trần Liễu biết không làm gì được phải đóng giả làm người đánh cá trốn lên thuyền vua Trần Thái Tông xin tha tội. Trần Thủ Độ biết được, cầm gươm đến định giết Trần Liễu nhưng Thái Tông lấy thân mình che cho Trần Liễu. Trần Liễu được tha tội nhưng quân lính theo ông đều bị giết.

Trần Liễu trước khi chết dặn Trần Quốc Tuấn phải cướp ngôi nhà Trần. Trần Quốc Tuấn nhận lời nhưng ông không thực hiện.

Trần Liễu mất vào ngày 1 tháng 4 âm lịch năm Nguyên Phong thứ nhất (tức 23 tháng 4 năm 1251), thọ 41 tuổi. Đền thờ ông ở núi An Phụ. Ngày mất của ông (1 tháng 4 âm lịch) cũng là ngày hội của đền Cao.
Tước phong

    Cuối thời nhà Lý, ông được phong làm Phụng Càn vương.
    Tháng 8 âm lịch năm 1234 được phong làm Hiển hoàng.
    Tháng 6 âm lịch năm 1236 giáng làm Hoài vương do vụ cưỡng hiếp người phi cũ của triều Lý.
    Tháng giêng năm 1237 phong làm Yên Sinh vương sau vụ nổi loạn, do vùng đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang được Trần Thái Tông ban cho Trần Liễu làm ấp thang mộc.

Gia đình
Vợ

Sử không ghi rõ ông có bao nhiêu bà vợ. Chỉ rõ có:

    Công chúa Thuận Thiên, trưởng công chúa của Lý Huệ Tông, sau là hoàng hậu Thuận Thiên (1216-1248) của Trần Thái Tông.
    Thiện Đạo quốc mẫu húy Nguyệt

Con cái

    Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung
    Vũ Thành vương Trần Doãn, do công chúa Thuận Thiên (Hiển Từ Thuận Thiên hoàng thái hậu) sinh ra.
    Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn
    Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang. Tháng giêng năm 1237 công chúa Thuận Thiên có mang Quốc Khang 3 tháng thì bị Trần Thủ Độ ép phải lấy Trần Thái Tông.
    Trần Thị Thiều. Hoàng hậu của Trần Thánh Tông, mẹ đẻ của Trần Nhân Tông, được phong là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu.

 

0 Bình luận

Gửi bình luận:

Click here to cancel reply
Họ và tên
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Thư điện tử
Tỉnh thành