Số người đang online : 54 Nguyễn Thị Minh Khai - Danh thắng - danh nhân, văn hóa - ẩm thực Việt Nam

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Nguyễn Thị Minh Khai
post image
Nguyễn Thị Minh Khai

Nguyễn Thị Minh Khai (tên thật: Nguyễn Thị Vịnh; 1910 - 41), nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quê: xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm (nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân), Hà Nội; sinh ở Vinh, tỉnh Nghệ An. Năm 1927, gia nhập Hội Hưng Nam (sau đổi thành Đảng Tân Việt); gia nhập Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn (1930). Tháng 3.1930, sang hoạt động ở Hương Cảng. Bị đặc vụ Quốc dân Đảng Trung Quốc bắt giam (1931 - 33). Ra tù, công tác ở Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng (8.1934). Năm 1935, học Trường Đại học Phương Đông ở Liên Xô. Đại biểu chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản với bí danh Phan Lan, đã đọc tham luận trước Đại hội về vai trò của phụ nữ trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh đế quốc và bảo vệ hoà bình. Đầu 1937, về nước, được chỉ định làm bí thư Thành uỷ Sài Gòn và uỷ viên Xứ uỷ Nam Kỳ.

Nguyễn Thị Minh Khai là người đồng chí, người bạn đời của Lê Hồng Phong. Năm 1940, bị bắt tại Sài Gòn; bị thực dân Pháp kết án tử hình, bị bắn ở Hóc Môn (28.8.1941). Nguyễn Thị Minh Khai là nữ chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam.

Bà tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ngày sinh của bà các tài liệu ghi không thống nhất. Theo trang web của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam thì bà sinh ngày 1 tháng 11. Theo báo Đại đoàn kết, thì bà sinh ngày 30 tháng 9.

Thân phụ bà là ông Nguyễn Huy Bình, người làng Mọc (Nhân Chính, Hà Nội), làm công chức hỏa xa ở Vinh, thường gọi là Hàn Bình. Mẹ là Đậu Thị Thư, quê Đức Tùng, Đức Thọ, Hà Tĩnh, làm nghề buôn bán nhỏ. Trước năm 1940, gia đình bà sống tại 132 phố Maréchal Foch (nay là phố Quang Trung), Vinh. Về sau, gia đình bà về sống ở quê mẹ là xã Đức Tùng, Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm 1919, bà bắt đầu học chữ Quốc ngữ rồi vào trường tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh.

Năm 1927, bà tham gia hoạt động trong phong trào công nhân ở Vinh và tham gia thành lập Tân Việt Cách mạng Đảng, sau đó được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ.

Năm 1930, bà gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, phụ trách tuyên truyền, huấn luyện đảng viên tại Trường Thi, Bến Thủy. Sau đó, bà sang Hương Cảng làm thư ký cho Nguyễn Ái Quốc ở văn phòng chi nhánh Đông phương bộ của Quốc tế Cộng sản.

Năm 1931, bà bị bắt tại Hương Cảng, bị kết án và giam ở đây. Năm 1934, bà ra tù và được Đông phương bộ Quốc tế Cộng sản cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva cùng với Lê Hồng Phong. Sau đó bà thành hôn với Lê Hồng Phong và học tại trường Đại học Phương Đông.[cần dẫn nguồn]

Năm 1936, bà được cử về nước truyền đạt chỉ thị của Quốc tế Cộng sản và được cử vào Xứ ủy Nam kỳ, giữ chức Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, một trong những người lãnh đạo cao trào cách mạng 1936-1939 ở Sài Gòn. Thời gian này, bà lấy bí danh là Năm Bắc.

Năm 1940, bà bị bắt ngay sau phiên họp của xứ ủy Nam kỳ về phổ biến chủ trương khởi nghĩa và bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Tuy nhiên, bà vẫn liên lạc với bên ngoài và vẫn tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh.


Khi còn trong nhà tù, bà có mấy câu thơ nói lên ý chí cách mạng của mình:

    Vững chí bền gan ai hỡi ai!
    Kiên tâm giữ dạ mới anh tài.
    Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ,
    Con đường cách mạng vẫn chông gai.

Sau khi Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, bà bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị xử bắn tại Ngã ba Giồng, Hóc Môn ngày 26 tháng 8 năm 1941. Trước khi bị xử tử, bà đã khẳng khái lên án tội ác thực dân Pháp và hô to: "Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!", thể hiện tinh thần bất khuất, kiên trung của bà.[cần dẫn nguồn]
Gia đình

Con gái của bà và Lê Hồng Phong là Lê Thị Hồng Minh, sinh năm 1939, tập kết ra Bắc năm 1954, được đưa sang Trung Quốc học tập, và sau đó sang Liên Xô học đại học ngành cơ khí chế tạo máy. Sau khi ra trường về nước bà chỉ làm nghiên cứu về Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1976 bà công tác tại Ban Tổ chức Thành ủy TP HCM, nghỉ hưu năm 1995[3].

Em gái bà, Nguyễn Thị Minh Thái, là vợ đầu của Võ Nguyên Giáp.

Nguyễn Huy Dung, em trai của bà, là giáo sư, bác sĩ tim mạch, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh và đã nghỉ hưu. Ông đã xuất bản 8 tập thơ cùng hàng chục đầu sách về y học và khoa học nhân văn.

0 Bình luận

Gửi bình luận:

Click here to cancel reply
Họ và tên
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Thư điện tử
Tỉnh thành