Số người đang online : 52 Chu Văn An - nhà giáo, nhà văn hoá, nhà thơ văn lớn ở đời Trần - Danh thắng - danh nhân, văn hóa - ẩm thực Việt Nam

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Chu Văn An - nhà giáo, nhà văn hoá, nhà thơ văn lớn ở đời Trần
post image
Chu Văn An - nhà giáo, nhà văn hoá, nhà thơ văn lớn ở đời Trần

Chu Văn An (1292 -1370) là nhà giáo, nhà văn hoá, nhà thơ văn lớn ở đời Trần. Ông là người thuần nhã, hiền hoà, chính trực, kiên định, được tôn vinh là người Thầy đứng đầu các nhà giáo Việt Nam từ xưa đến nay.

  • 1

    Tiểu sử

    Chu Văn An tên thật là Chu An, tên thụy là Văn Trinh, tên hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt. Ông sinh năm Nhâm Thìn (1292) đời vua Trần Nhân Tông, tại làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, nay là huyện Thanh Trì - Hà Nội. 

    Ông thi đỗ Thái học sinh (tức tiến sĩ) nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở quê nhà. Ông nổi tiếng chính trực, tính tình nghiêm nghị, học vấn sâu rộng, tư cách thanh cao, sửa mình trong sạch, giữ gìn tiết tháo, không cầu danh lợi, danh tiếng lan xa, học trò theo học rất đông. Trong số đó có nhiều người thành đạt, làm quan to trong triều như Nhập nội Hành khiển Phạm Sư Mạnh, Trạng nguyên Lê Quát, ... 

    Chu Văn An được vua Trần Minh Tông (1314 -1329) vời ra làm đại quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám để dạy Thái tử học. Ông có công lớn trong việc truyền bá, giáo dục tư tưởng đạo đức Khổng giáo vào Việt Nam. Ông đã cùng Mạc Đỉnh Chi, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn tham gia vào việc củng cố triều Trần lúc đó đã bắt đầu đi vào suy thoái. Trần Minh Tông làm vua đến năm 1329 thì lui về làm Thái thượng hoàng và nhường ngôi cho thái tử Vượng mới 10 tuổi lên làm vua, tức là vua Trần Hiến Tông. Hiến Tông làm vua được 13 năm thì mất không có con nối dõi. Trần Minh Tông lập em trai tên là Hạo lên làm vua, tức là vua Trần Dụ Tông (1341-1369). Vua Minh Tông mất, triều thần những người giỏi cũng lần lượt mất cả, việc chính trị bỏ trể nải. Kẻ gian thần đắc chí làm nhiều điều vô đạo. Chu Văn An đã nhiều lần can ngăn Dụ Tông nhưng không được, bèn dâng sớ xin chém bảy kẻ nịnh thần nhưng vua không nghe. Ông đã từ quan về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, lấy hiệu là Tiều Ẩn. Ông mất tại đó năm Canh Tuất (1370), hưởng thọ 79 tuổi.

    Theo Phan Huy Chú thì Chu Văn An đã để lại cho đời các tác phẩm Quốc ngữ thi tập bằng chữ Nôm và Tiều Ẩn thi tập bằng chữ Hán và bộ sách Tứ Thư thuyết ước (chú giải Tứ Thư). Phan Huy Chú nhận xét thơ ông “lời thơ trong sáng, u nhàn”. Đào Trung Kiên đã giới thiệu sáu tuyệt phẩm của ông trên “Thi Viện”. Theo Đặng Kim Ngọc (1959) thì Chu Văn An còn là một thầy thuốc Đông y, ông đã soạn quyển Y học yếu giản tập chú di biên. 

    Khi ông mất, vua Trần đã đặt cho ông tên thụy là Văn Trinh, truy tặng tước Công (tước lớn nhất trong năm tước mà người ngoài hoàng tộc có thể được phong), ban hiệu là Khang Tiết tiên sinh và được đem vào thờ trong Văn Miếu. 



    Sự nghiệp của ông được ghi lại trong câu đối thờ ở Văn Miếu: “Trần vãn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc/ Phượng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong”. (Cuối đời Trần là thời nào, ngâm vịnh rong chơi há chẳng phải là cái thú vui của bậc hiền giả? Núi Phượng vẫn còn dấu vết ở ẩn, đỉnh non vẫn mãi mãi ngưỡng mộ phong thái của kẻ triết nhân). 

    Ngô Thế Vinh trong bài văn bia ở đền Phương Sơn đã giải thích: “Văn, đức chi biểu dã. Trinh, đức chi chính cố dã” (Văn là cái vẻ đẹp bên ngoài của đức. Trinh là sự bền vững bên trong của đức).Văn Trinh nhằm biểu dương một người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức “bên ngoài thuần nhã, hiền hoà với bên trong chính trực, kiên định”. 

    Phan Huy Chú đã ca ngợi ông: “Học nghiệp thuần túy, tiết tháo cương thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được.” 

  • 2

    Tác phẩm chọn lọc

    Linh sơn tạp hứng

    Vạn điệp thanh sơn thốc họa bình 
    Tà dương đảo quải bán khê minh 
    Thúy la kính lý vô nhân đáo 
    Sơn thước đề yên thời nhất thanh 

    Vịnh cảnh núi Chí Linh

    Núi non trùng điệp như che 
    Tà dương hắt ánh bờ khe sáng ngời 
    Đường quanh cỏ biếc vắng người 
    Tiếng chim khách núi đôi hồi kêu mây 

    (Nguyễn Tấn Hưng dịch) 
    Nguồn:Đào Trung Kiên, 2006. Thi Viện trực tuyến 

    Miết trì

    Thủy nguyệt kiều biên lộng tịch huy 
    Hà hoa hà diệp tịch tương y. 
    Ngư du cổ chiểu long hà tại 
    Vân mãn không sơn hạc bất quy 
    Lão quế tùy phong hương thạch lộ 
    Nộn đài trước thủy một tùng phi 
    Thốn tâm thù vị như hôi thổ 
    Văn thuyết tiên hoàng lệ ám huy 

    Ao rùa

    Bên cầu trăng nước tịch dương 
    Lá hoa sen lặng tựa nương giữa hồ. 
    Rồng đâu? Ao cũ cá đùa 
    Mây đầy núi vắng hạc chưa trở về 
    Quế thơm đường đá gồ ghề 
    Nước đầm rêu biếc như che cổng tùng 
    Phải đâu tro đất lạnh lùng 
    Nhắc đời vua trước lệ lòng thầm rơi. 

    (Nguyễn Tấn Hưng dịch) 
    Nguồn:Đào Trung Kiên, 2006. Thi Viện trực tuyến 

    Xuân đán

    Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn 
    Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn 
    Bích mê thảo sắc thiên như túy 
    Hồng thấp hoa sao lộ vị can 
    Thân dữ cô vân trường luyến tụ 
    Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan 
    Bách huân bán lãnh trà yên yết 
    Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn. 

    Xuân sớm

    Nhà trên núi vắng, thảnh thơi, 
    Cửa phên, nghiên chắn , làn hơi lạnh về 
    Trời xanh, cỏ biếc, lê thê 
    Đầu cành hoa đỏ, đầm đìa hạt sương 
    Thân cùng mây trắng vấn vương 
    Lòng như giếng cổ chẳng thường gợn tăm 
    Hương tàn, trà nguội, mấy tuần 
    Chim khe, lãnh lót, kêu xuân, mộng tàn. 

    (Nguyễn Tấn Hưng dịch) 
    Nguồn:Đào Trung Kiên, 2006. Thi Viện trực tuyến 

    Giang đình tác

    Giang đình độc lập sổ quy châu 
    Phong cấp than tiền nhất địch thu 
    Tà nhật ngâm tàn hồng đạm đạm 
    Mộ thiên vọng đoạn bích du du 
    Công danh dĩ lạc hoang đường mộng 
    Hồ hải lưu vi hãn mạn du 
    Tự khứ, tự lai hồn bất quản 
    Thương ba vạn khoảnh tiện phi âu. 

    Cảm tác ở đình bên sông

    Đếm thuyền về lại bến bên sông 
    Gió lộng vào bờ tiêng sáo trong 
    Ngày xế mỏi ca hồng nhạt nhạt 
    Trời chiều vời vợi xanh mênh mông 
    Công danh quá khứ như là mộng 
    Hồ hải chu du một tang bồng 
    Tự tại đi về không bó buộc 
    Nhìn âu tung cánh lướt trời không.

0 Bình luận

Gửi bình luận:

Click here to cancel reply
Họ và tên
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Thư điện tử
Tỉnh thành
Copyright