Số người đang online : 61 CHÙA HÀ - Danh thắng - danh nhân, văn hóa - ẩm thực Việt Nam

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

CHÙA HÀ
post image
CHÙA HÀ

Chùa Hà đã được Nhà nước công nhận là di tích...

CHÙA HÀ



 
Tên di tích: Chùa Hà
Địa điểm: phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội
               Chùa Hà đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1995.
Thông tin di tích
Chùa Hà – Di tích lịch sử và cách mạng của Hà Nội
Chùa Hà có tên chữ là Thánh Đức tự, trước thuộc làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, nay thuộc quận Cầu Giấy - Hà Nội.  Chùa có các hạng mục kiến trúc đẹp, thanh nhã, hài hoà với cảnh quan; là di tích lịch sử cách mạng và trở thành danh thắng của Thủ đô.
Chùa Hà được lập nên để Tư Thành (tên tự của vua Lê Thánh Tông) bày tỏ lòng nhớ ơn các đại thần: Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Đinh Liệt...đã cưu mang mình và phế bỏ thái tử Nghi Dân (anh trai Tư Thành - một kẻ phản vương, phản quốc) để đưa mình lên ngôi vua vào năm 1460, lấy hiệu là Lê Thánh Tông. Chùa đã được trùng tu quy mô lớn vào đời vua Lê Hy Tông, niên hiệu Chính Hòa (1680-1705).
Chùa Hà nhìn ra hướng tây, tam bảo năm gian rộng, Phật điện ba gian theo kiểu chữ đinh, phía trước là tam quan theo kiểu truyền thống. Trên có gác chuông, gác nọ nối vào gác kia, mái cong cao vút bên góc tạo cho tam quan dáng vẻ nhẹ nhàng và thoáng mát. Ở chùa Hà còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ bằng gốm như bát hương, chĩnh, ang, vại... thể hiện sự tôn kính và tín ngưỡng của người Thổ Hà (xứ Kinh Bắc) xưa kia. Đặc biệt, chùa Hà còn lưu giữ nguyên vẹn một quả chuông đồng đúc từ thời vua Cảnh Thịnh thứ 7 (1799). Chuông cao hơn 1,30m, chu vi 1,5m. Trên thân chuông có khắc bài văn cổ chứa đựng nhiều tư liệu quý, trong đó có đoạn: “Nơi đây đấng Phật trang nghiêm, nào tụng kinh, nào chùa tháp. Nhưng bỗng gặp binh biến, chùa im vắng tiếng chuông. Sau đó đến ngày Tết tháng 11 năm Kỷ Mùi (1799), các bậc quan viên hương lão cùng bốn giáp ra sức bỏ tiền bỏ của lo việc đúc chuông. Quả chuông này là quả phúc, nặng hơn 300 cân, cao 1 thước, 6 tấc. Tiếng chuông vang lên ấm áp 4 phương trời”.
Tên chữ của chùa Hà xuất hiện từ thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497). Sử chép, tháng 10 năm Kỷ Mão (1459) Nghi Dân, con truởng Thái Tông vì mắc lỗi không được nối ngôi liền liên kết bè đảng, ban đêm bắc thang vào thành giết vua Lê Nhân Tông và Hoàng Thái hậu. Nghi Dân tiếm ngôi và xưng đế. Triều đình không yên. Trước đó, hoàng tử Tư Thành được vợ chồng Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ cưu mang sinh ở chùa Huy Văn (phố Hàng Bột) vì sợ liên luỵ phải tạm lánh vào chùa thôn Hậu, cách chùa Hà độ 1 km. Lớn lên, Tư Thành thường tới chơi chùa Hà. Tháng 6 năm Canh Thìn (1460), các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt phế bỏ Nghi Dân, ra chùa Huy Văn ở ngoài thành rước Tư Thành lên ngôi vua, lấy miếu hiệu là Lê Thánh Tông. Sau này khi đã yên ngôi báu, nhớ ơn nơi đã cưu mang, vua bèn đặt tên cho chùa thôn Hậu là chùa Thánh Chúa còn chùa Hà đặt tên là Thánh Đức. Đến nay, qua các chữ Hán còn lại ở chùa được biết chùa được sửa chữa lớn vào đời Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hoà (1680 - 1705).
Trải bao thăng trầm, hiện chùa Hà còn giữ được quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh 7 (1799). Chuông cao 1,3 mét, chu vi 1,5 mét. Thân chuông khắc bài minh do Nguyễn Khuê giữ chức Giáo thụ soạn. Bài minh có nhiều tư liệu nói về thời Tây Sơn: “Ngày trước nơi đây đất Phật trang nghiêm, nào tụng kinh nào chùa tháp. Nhưng rồi bỗng gặp binh biến, nhà chùa im vắng tiếng chuông. Sau đó một lần tìm đúc lại cũng không thành. Mãi đến ngày tốt tháng 1 năm Kỷ Mùi (1799) các quan viên hương lão và người bốn giáp trong làng bỏ tiền của để lo việc đúc chuông. Rồi đặt nơi thu đồng, nấu đồng làm chuông và đúc thành quả phúc. Chuông này nặng hơn 300 cân, cao một thước 6 tấc. Tiếng chuông ngân vang ấm áp hương trời”.
Đến giữa thế kỷ XX, chùa Hà còn chứng kiến một sự kiện lịch sử của Hà Nội. Tháng 6 năm 1945, Thành uỷ Hà Nội tổ chức lớp tập huấn chính trị quân sự cho cán bộ tự vệ và thanh niên xung phong bí mật toàn thành tại chùa Hà dưới danh nghĩa Hướng đạo sinh đi cắm trại. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, đồng chí Nguyễn Quyết, Bí thư Thành uỷ đã triệu tập và trực tiếp chủ trì cuộc họp các cán bộ lãnh đạo tự vệ và thanh niên tuyên truyền xung phong toàn thành phố ở tam quan chùa Hà. Hội nghị bàn kế hoạch khởi nghĩa cướp chình quyền ở Hà Nội, quy định rõ phương thức huy động quần chúng ở nội ngoại thành là cơ bản, có lực lượng tự vệ chiến đấu làm nòng cốt và tham gia khởi nghĩa vào sáng ngày 19 tháng 8 năm 1945.
Trong kháng chiến chống Pháp, đầu năm 194,7 chùa Hà bị giặc phá huỷ chỉ còn sót lại tam quan, một phần Phật điện với một số tượng Phật, trong đó có tượng Quan Thế Âm và tượng Đức Ông cao 1,92 mét tạo tác tinh xảo mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII. Từ đống đổ nát, cụ Đức người nom chùa ngày ấy đã dựng lại mái chùa bằng tre gỗ đơn sơ. Năm 1988, bằng tiền công đức của dân, từng bước chùa được tu sửa.
Nay đến thăm chùa Hà, ta thấy các công trình kiến trúc được xây dựng trong một không gian thoáng đãng, mái chùa nép mình dưới vòm cây cổ thụ. Ngoài cùng là tam quan rồi đến vườn cây, núi non bộ, hồ bán nguyệt thả sen. Phía trong sân là toà tam bảo kết cấu kiểu chữ đinh gắn tiền đường với Phật điện. Mái nhà tiền đường làm kiểu chồng diêm hai tầng mái và lợp ngói ống, bờ nóc thượng điện đắp phượng chầu mặt trăng. Toà thượng điện ba gian xây kiểu bít đốc, mái lợp ngói mũi hài. Năm 2001 chùa khánh thành khu nhà Mẫu, nhà Tổ kiến trúc đồ sộ, nguy nga thể hiện tài năng các nghệ nhân cuối thế kỷ XX.
Năm 1982, chùa đã được gắn biển “Di tích cách mạng”. Tháng 12 năm 1996, chùa đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng bảo tồn. Tháng 1 năm 2002 tại kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội khoá XII đã quyết định đặt tên cho đoạn đường từ đường Cầu Giấy qua cửa chùa Hà và Trường tiểu học Dịch Vọng B đến phố Tô Hiệu dài 800 mét rộng từ 6 đến 8 mét là phố Chùa Hà.



Tam quan chùa

Chuông đồng

Văn bia

Lễ chùa

0 Bình luận

Gửi bình luận:

Click here to cancel reply
Họ và tên
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Thư điện tử
Tỉnh thành