Số người đang online : 37 Võ Trường Toản - Danh thắng - danh nhân, văn hóa - ẩm thực Việt Nam

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Võ Trường Toản
post image
Võ Trường Toản

Võ Trường Toản (…- Nhâm Tí 1792)

Xử sĩ, nhà giáo dục thời Nguyễn sơ, hiệu là Sùng Đức, quê huyện Bình Dương, phủ Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh).

Sống vào thời loạn, không ra làm quan, mở trường dạy học. Học trò của ông khá đông và nhiều người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Phạm Đăng Hưng.

Nguyễn Phúc Ánh vẫn thường vời ông đến giảng sách, bàn luận chính trị, bàn luận chính trị, muốn trọng dụng ông, nhưng ông một mực từ chối. Giới trí thức đương thời đều cảm phục tôn kính ông, gọi ông là "Gia Định xử sĩ".

Ngày 9-6 Âm lịch Nhâm Tí (27-7-1792) ông mất. Nguyễn Ánh ban hiệu cho ông là Gia Định xử sĩ Sùng Đức võ tiên sinh.

Sau khi giặc Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì, Phan Thanh Giản cùng với Nguyễn Thông và nhiều sĩ phu yêu nước khác đứng ra lo việc cải táng Võ Trường Toản về Bảo Thạnh, tỉnh Vĩnh Long (nay là tỉnh Bến Tre) với ý nghĩa là không để mộ thầy nằm trong vùng giặc chiếm.

Võ Trường Toản là nhà giáo dục lớn sinh trưởng ở dất Đồng Nai.

Ngoài một nhà giáo, ông còn là một nhà thơ khi chữ Nôm đang trên đà phát triển. Thơ văn ông phần lớn đã thất lạc, còn lại bài "Hoài cổ phú". Với bài phú này, ông đã chứng minh một cách hùng hồn cho khả năng đại chúng của chữ Nôm (tiếng Việt), trong khi chữ Hán vẫn còn là một thứ văn tự quyết định cho văn chương.

Võ Trường Toản (? - 1792), hiệu Sùng Đức; là một nhà giáo Việt Nam nổi tiếng “học rộng, có đức hạnh hơn người” ở Gia Định vào thế kỷ 18.


Tiểu sử

Theo GS. Trịnh Vân Thanh, thì tổ tiên Võ Trường Toản vốn là người Hoa lánh nạn Mãn Thanh sang cư trú ở Đàng Trong. Đến khi xảy ra cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn, con gái thứ hai của Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên với vua Chân Lạp Chei Chetta (1668 - 1628), thì họ cũng từ miền Trung vào miền Nam lập nghiệp.

Về tiểu sử của ông đã được đại thần Phan Thanh Giản tóm tắt trong một bài văn bia bằng chữ Hán soạn năm Đinh Mão (1867), tạm dịch ra như sau:

    "Tiên sinh họ Võ, húy Trường Toản. Đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ (Quảng Đức) [4], hoặc nói người Bình Dương (Gia Định) [5], trước thọ nghiệp cùng ai chưa biết rõ. Chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn, đầy đủ, chất thật có thuật nghiệp thâm uyên thông đạt. Xảy hồi loạn Tây Sơn, tiên sinh ở ẩn mở trường dạy học[6], thường học trò đến mấy trăm. Ông Ngô Tùng Châu là môn sinh cao đệ nhất. Thứ đến là các ông Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhơn Tịnh. Bậc danh sĩ là ông Chiêu, ông Trúc đều ẩn dật. Ngoài ra không kể hết được...Các ông ấy đều gặp hồi phong vận, thời trung hưng triều Gia Long đức bậc tôi hiền, có người hoặc sát thân để làm nên điều nhân, hoặc quên mình để trọng tiết nghĩa, thảy đều nên công nghiệp lớn...Lúc ngự vào Gia Định, đức Thế Tổ Cao Hoàng đế hằng triệu tiên sinh tới đối ứng...Tiên sinh không khứng ra làm quan, nên đại khái không thấy được sự nghiệp. Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều bậc nhân tài, mà còn truyền thuật, giảng luận, trau dồi về sau"...

Võ Trường Toản mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý (tức 27 tháng 7 năm 1792).

Hiện nay văn thơ của Võ Trường Toản chỉ còn lưu truyền một bài "Hoài cổ phú", viết bằng chữ Nôm, dài 24 câu.

Được tôn kính

Hay tin ông mất, chúa Nguyễn cảm mến, tiếc thương, ban từ hiệu là "Gia Ðịnh xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh" (nghĩa là bậc xử sĩ Võ tiên sinh, người Gia Định, sùng về đạo đức) để ghi vào mộ.

Để tưởng nhớ công đức của thầy, học trò cũ của ông cũng có đôi liễn tưởng niệm:

    Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử
    Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong"

Dịch nghĩa:

    Lúc sống, dạy dỗ được người, không con mà như có
    Khi mất, tiếng tăm còn để, thân tan danh vẫn còn.


Hiện trong Tụy Văn lâu nằm trong khuôn viên Văn Thánh Miếu Vĩnh Long có đặt bài vị thờ ông.
Khu mộ và đền thờ

Hài cốt của nhà giáo Võ Trường Toản lúc đầu được chôn tại làng Hòa Hưng, là nơi ông từng ngồi dạy học. Theo Huỳnh Minh, chuẩn theo lời tâu của Phan Thanh Giản, năm 1852, vua Tự Đức đã ban chỉ “lập đền thờ, hiến ruộng để phụng sự, mỗi năm xuân thu cúng tế” cho ông.

Sau khi quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862), Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông (đốc học Vĩnh Long), Phạm Hữu Chánh (hiệp trấn An Giang), hiệp cùng nhiều sĩ phu khác đã cải táng di cốt của Võ Trường Toản (cùng vợ và con) về làng Bảo Thạnh (Ba Tri, Bến Tre), với ý nghĩa là không để mộ thầy nằm trong vùng cai quản của quân xâm lược. Ngày cải táng (28 tháng 3 âm lịch năm 1867), Nguyễn Thông đã thay mặt các nho sĩ đứng làm chủ lễ.
Mộ Võ Trường Toản (trái), vợ (giữa) và con gái (phải)

Khu mộ của Võ Trường Toản được người ở Bảo Thạnh gọi là "khu mộ ông Hậu Tổ", vì ông là người có công truyền dạy luân lý Khổng Mạnh ở vùng đất Đồng Nai - Gia Định. Ở đây, ngoài ngôi mộ ông, còn có mộ vợ và con gái (vợ chồng ông chỉ sinh được 1 gái, bị bệnh mất từ nhỏ). Cả ba đều được xây dựng theo dạng voi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng. Ở ngoài khu mộ, phía bên phải là một nhà thờ nhỏ đẹp với mái cong, hai tầng, và bên trong có đặt tượng của ông.

Khu mộ và đền thờ đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 24 tháng 1 năm 1998.

0 Bình luận

Gửi bình luận:

Click here to cancel reply
Họ và tên
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Thư điện tử
Tỉnh thành