Số người đang online : 68 Phạm Tu (476 - 545) - Danh thắng - danh nhân, văn hóa - ẩm thực Việt Nam

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Phạm Tu (476 - 545)
post image
Phạm Tu (476 - 545)

Phạm Tu là một trong những bậc hào kiệt đầu tiên đã nhiệt liệt hướng ứng và có mặt bên cạnh Lý Bôn, trực tiếp tham gia vào quá trình chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của chính quyền nhà Lương. Là công thần khai quốc thời tiền Lý, ông có công giúp Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, thành lập nên nước Vạn Xuân.

Phạm Tu sinh ngày 10 tháng 3 năm Bính Thìn (tức 19.04.476) tại Trang Quang Liệt, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Song thân của Ngài là Phạm Thiều và Lý Thị Trạch, vốn là những người đức độ có tiếng trong vùng. (Theo tác giả Nguyễn Khắc Thuần, dẫn ghi chép của thần tích đền Thanh Liệt thì Phạm Tu sinh năm 481, mất năm 545, hưởng thọ 64 tuổi). Ngài là danh nhân họ Phạm xuất hiện sớm nhất trong lịch sử: Bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” có hai chỗ viết về Ngài; bộ “Biên niên Lịch sử cổ trung đại” có ba lần nhắc đến tên Ngài … Dòng họ Phạm Việt Nam thờ Ngài là Thượng Thủy tổ Họ Phạm Việt Nam.Từ nhỏ Ngài đã là một trang thiếu niên tư chất thông minh, khôi ngô tuấn tú, học giỏi, chăm đọc sách, học giỏi, hay đọc sách binh pháp, đàn hát hay… Lớn lên, ông có vóc dáng rất khỏe, lại năng luyện võ nghệ, là một đô vật nổi tiếng trong vùng, thường được gọi là Đô Tu, rồi đã thật sự trở thành một hào kiệt có uy tín lớn trong vùng.

Sinh ra giữa thời “hơn 1000 năm Bắc thuộc” (179 TCN-905) nên hầu như suốt cuộc đời, Ngài sống ẩn dật, nung nấu chí cứu nước, chờ thời cơ. Ngài lấy biệt hiệu là Cảm Ứng cư sĩ , từng khuyên dân “cửu niên tam  tích”(1) – “cửu niên” với nghĩa là lâu dài, nhiều năm tích trữu ba thứ là: Lương thực, quần áo, vũ khí … để luôn sẵn sàng, khi thời cơ đến thì vùng lên giành lại non sông.

Năm 541, được tin Lý Bí phất cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Lương, mặc dù lúc này đã bước sang tuổi 66, nhưng Ngài vẫn tích cực hưởng cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn). Ngài đã chủ động  tập hợp trai tráng trong vùng, lập thành một đội quân mạnh, gia nhập quân khởi nghĩa, đánh chiếm thành Long Biên (vùng Bắc Ninh ngày nay) thủ phủ của chính quyền đô hộ. Phạm Tu là người có tài năng quân sự bẩm sinh và khi đến tụ nghĩa dưới ngọn cờ cứu nước của Lý Bôn, tài năng quân sự bẩm sinh đó của Phạm Tu đã có cơ hội để phát huy một cách nhanh chóng và mạnh mẽ. Cùng với Triệu Túc và Tinh Thiều, ông trở thành 1 trong 3 võ tướng trong bộ tham mưu trong cuộc nổi dậy của Lý Bí. Ông là nanh vuốt của Lý Bôn, là vị tướng cầm quân rất xuất sắc.Tài năng quân sự của Phạm Tu thể hiện tập trung nhất qua mấy trận đánh lớn sau đây: Quân khởi nghĩa đánh đâu thắng đó, thứ sử Tiêu Tư phải bỏ chạy về nước, nghĩa quân chiếm đóng thành Long Biên.

  • Năm 542: Cùng với Lý Bôn và một số tướng lĩnh khác, trực tiếp tham gia chỉ huy cuộc tấn công vào sào huyệt của quân đô hộ nhà Lương trên đất nước ta, khiến cho toàn bộ chính quyền của giặc do Thứ sử Giao Châu là Lâm Vũ hầu Tiêu Tư cầm đầu, phải hốt hoảng tháo chạy.
  • Tháng 1 năm 543: Cùng với Lý Bôn trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công bất ngờ và rất dũng mãnh vào sâu trong lãnh thổ của giặc, đập tan hoàn toàn lực lượng quân đội của nhà Lương đang tập trung ở Hợp Phố. Đây chính là đội quân đang chuẩn bị đi đàn áp Lý Bôn do Thứ sử Giao Châu là Tôn Quýnh và Thứ sử Tân Châu là Lư Tử Hùng cầm đầu. Trật tự ở khu vực biên giới phía Bắc nhanh chóng được khẳng định. Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng do bị đại bại thảm hại ngay khi chưa kịp xuất quân nên đã bị cả triều đình nhà Lương hết sức tức giận, khép vào tội buộc phải chết.  

  • Tháng 5 năm 543: Khi quân Lâm Ấp ở phía Nam nước ta, lợi dụng tình thế tràn sang cướp bóc, Lý Bí đã cử Phạm Tu làm Tổng chỉ huy đem quân vào Cửu Đức đánh dẹp, trừng trị đích đáng hành vi quấy phá của quân Champa, khiến cho tình hình biên giới phía Nam được yên ổn. Mùa hè năm 543 Người đã chỉ huy đánh tan địch ngay ở Cửu Đức (vùng Hà Tĩnh ngày nay). Trong chiến cuộc này, dưới trướng của Phạm Tu có cả tướng quân Phục Man, người làng Giá (Yên Sở, Đan Phượng Hà Tây) - sau được thờ làm Thành hoàng làng ở đấy. Chiến thắng trở về, Ngài càng được khẳng định là vị tướng tài giỏi nhất trong nghĩa quân và cũng là người cao tuổi nhất(2)

Nhờ những cống hiến xuất sắc nói trên. tháng giêng năm Giáp Tý (544), khi Lý Bôn lên ngôi Hoàng Đế (Lý Nam Đế), thành lập nhà nước Vạn Xuân Phạm Tu được phong làm Đại tướng (Tả tướng), đứng đầu Ban Võ và các võ quan của triều đình. 

Tháng 6  năm 545, nhà Lương huy động binh lực của cả 5 châu xung quanh nước ta là: Việt - La - An - Ái - Định Châu sang đàn áp Giao châu do hai tướng thiện chiến là Dương Phiêu và Trần Bá Tiên chỉ huy theo đường biển tiến sang. Phạm Tu đã giúp Lý Nam Đế huy động tới 3 vạn quân ra chống cự (trong khi toàn dân ở Giao Châu lúc bấy giờ chỉ có hơn 70 vạn nhân khẩu cả trẻ già, trai gái). Lý Nam Đế chống cự ở Chu Diên (vùng duyên hải Thái Bình, Nam Định) không nổi, phải lui về củng cố thành trì ở cửa sông Tô Lịch. Quân Lương đuổi tới tấn công. Trong cuộc đọ sức quyết liệt với quân Lương do tướng Trần Bá Tiên cầm đầu, ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (tức 13/8/545), Phạm Tu đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến giữ thành Tống Bình - một công trình quân sự mới được cấp tốc xây dựng bên cửa sông  Tô Lịch (phía sau chợ Đồng Xuân Hà Nội ngày nay) để chặn đại quân địch lại cho Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục bảo toàn lực lượng, tạm rút lên trung du rồi vòng về vùng đầm lầy Dạ Trạch xây dựng căn cứ địa chiến đấu lâu dài, nhằm đi đến thắng lợi cuối cùng. Triều đình nhà Tiền Lý đã giữ vững nền độc lập của nhà nước Vạn Xuân được thêm gần 6 năm nữa (545 - 602).

Phạm Tu hy sinh là tổn thất nặng nề, khiến sức đề kháng của triều đình Lý Nam Đế suy giảm rất nhanh. Sau khi lão tướng Phạm Tu hy sinh, Nhà vua vô cùng thương tiếc, đã cho Thái giám về tận quê hương truy phong tước Long Biên hầu (vì chính Ngài có công đầu trong hạ thành Long Biên, thủ phủ của địch); ban tên thụy là Đô Hồ, sắc cho quê hương là Thanh mộc ấp, được miễn sưu sai tạp dịch, để thờ Ngài làm “bản cảnh thành hoàng”  lưu truyền mãi mãi, nhiều nơi trong xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì đã lập miếu thờ. Trong gia phả họ tộc còn ghi lại ông có hai người con là Phạm Tĩnh và Phạm Hiển sau này cũng phò vua giúp nước, chiêu binh chống quân đô hộ nhà Tùy. Các đời sau: Đinh, Lê, Lý, Trần, rồi Hậu Lê, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nguyễn đều có sắc phong là Thượng đẳng Thần: Đô Hồ Đại Thần hay Đô Hồ Đại Vương. Hiện nay ở Đình làng Thanh Liệt còn lưu giữ được 10 sắc phong từ thời Cảnh Hưng nhà Lê, qua Cảnh Thịnh, Tây Sơn đến Khải Định nhà Nguyễn..

Đền thờ Phạm Tu (476-545). Đình Ngoại, xã Thanh Liệt thờ Đô Hồ đại vương - Long Biên hầu;
Trưởng Ban võ Nhà nước Vạn Xuân Thượng thuỷ tổ Họ Phạm Việt Nam.

 

 

0 Bình luận

Gửi bình luận:

Click here to cancel reply
Họ và tên
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Thư điện tử
Tỉnh thành