Số người đang online : 70 Đặng Trần Côn (Thế kỷ XVIII) - Danh thắng - danh nhân, văn hóa - ẩm thực Việt Nam

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Đặng Trần Côn (Thế kỷ XVIII)
post image
Đặng Trần Côn (Thế kỷ XVIII)

Đặng Trần Côn người làng Nhân Mục (tên Nôm là Mọc), huyện Thanh Trì (nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội). Hiện chưa rõ năm sinh năm mất. Hoàng Xuân Hãn trong Chinh phụ ngâm bị khảo có nhắc đến bức thư Đặng Trần Côn gửi cho Phan Kính mời tới thưởng xuân, từ đó suy luận rằng, ông là bạn của Phan Kính và tuổi hai người xấp xỉ nhau (Phan Kính sinh năm 1715, người làng Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn - nay thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, đậu thám hoa năm 29 tuổi). Thêm một chi tiết nữa trong Tang thương ngẫu lục: Đặng Trần Côn mến mộ tiếng tăm Đoàn Thị Điểm đã từng đem thơ đến ra mắt nữ sĩ và bị bà chê rằng: “Cậu học trò mới học ấy, bõ gì nói chuyện!”(1). Theo Đoàn thị thực lục thì Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705. Do đó có thể kết luận được, Đặng Trần Côn sinh vào khoảng 1710 - 1720, dưới thời vua Lê Dụ Tông và chúa Nhân Vương Trịnh Cương.

Tang thương ngẫu lục cho biết: “Trong khoảng trường ốc, văn chương ông tiếng lừng thiên hạ. Bấy giờ chúa Uy Vương (Trịnh Giang) bị bệnh, phải dời đến ở cung Thưởng Liên. Kinh thành tối đến cấm lửa rất ngặt. Ông đào hầm ở dưới đất đọc sách, không bỏ bễ lúc nào”(2). Đỗ hương cống nhưng thi Hội trượt, lại “vốn tính thích rượu, đuềnh đoàng, phóng túng”, ông không thi tiếp mà nhận chức Huấn đạo ở một phủ, sau đổi sang làm Tri huyện Thanh Oai (Hà Đông), thăng đến Ngự sử đài chiếu khám rồi mất.

Tác phẩm của ông đều bằng Hán văn. Ngoài tiểu thuyết Bích Câu kỳ ngộ ra, ngày nay chúng ta chỉ còn biết được đầu đề của 8 bài thơ Tiêu Tương bát cảnh (Tám cảnh Tiêu Tương); mấy bài phú: Trương Hàn tư thuần lô (Trương Hàn nhớ rau thuần cá vược), Trương Lương bố y (Trương Lương áo vải) Khấu môn thanh (Tiếng gõ cửa) cùng những mảnh nhỏ của các tác phẩm ấy được ghi lại trong Tang thương ngẫu lục như là điển hình về một “phong cách cao” thể hiện sự “chấn khởi” của đời Trung hưng. Qua đó, chúng ta còn có thể thấy được những câu phú “sang sảng”, dụng điển tinh vi và cực tả đầy ấn tượng:

Lãnh đạm thôn hào, bán thưởng liễu bát vương chi thành bại,

Tầm thường dã phẩm, sổ bôi tàn lưỡng Tấn chi thị phi.

(Món quê nhạt nhẽo, nửa bữa xong cuộc thành bại của tám vị vương,

Vị đồng tầm thường, mấy chén tàn chuyện thị phi của hai triều Tấn).

(Trương Hàn tư thuần lô)

Hay:

Phó xa doanh hận nhất khâm, Bác Lãng chi sa ngân ám thấp,

Hoàng Thạch bí truyền bán tụ, Dĩ Kiều chi bộ điểm sơ hy.

(Một vạt áo chứa đầy tức giận bởi nỗi đánh lầm người phó xa mà không đánh trúng Tần Thủy Hoàng, vạt áo ấy còn dâm dấp ướt vì ngấn cát ở đất Bác Lãng,

Nửa ống tay áo giấu quyển sách bí truyền của ông Hoàng Thạch, vừa khô vết sương ở cầu Dĩ Kiều)

(Trương Lương bố y)

Hoặc:

Càn khôn bôi lý kinh doanh, hạn thụy chi sơn hà dục động

(Xoay xở càn khôn trong chén rượu, làm cho cõi non sông ngủ bên cạnh như muốn giật mình).

(Khấu môn thanh)

Trong bài văn yết miếu đức thánh Khổng Tử, ông đã nâng vị “Vạn thế sư biểu” này lên địa vị tối cao vô thượng chỉ bằng một phép đối tám chữ, cô đúc như một lời khẳng định mang tầm chân lý:

Vô vị Huân Hoa

Năng ngôn thiên địa

(Nghiêu Thuấn không ngôi,

Đất trời biết nói)

Bước vào địa hạt thơ ca, Đặng Trần Côn như tạm rời xa những ngôn từ khoa trương ghi đậm dấu ấn của trí tuệ sắc sảo để trở về với những khoảnh khắc của tâm trạng phát lộ ra tự nhiên và chân thực:

Tiêu tương dạ vũ

Cô bồ trạch quốc tứ thương thương

Thùy bả lâm lang trích dạ trường

Sạ quá u lan đề Sở khách

Hốt lai ám trúc khấp Nga Hoàng

Tần châu lãnh bức ngư đăng tế,

Bồng để thu kinh lữ mấn hoàng

Phất lược sổ phong viên thụ ngoại

Thương ca thanh đoạn thủy mang mang

Dịch nghĩa:

Cỏ cao nước cả bốn bề xanh xanh,

Ai đem gieo hạt ngọc trong lúc đêm dài?

Trận mưa chợt qua cụm lan tối tăm để than người khách Sở,

Vụt đến bụi trúc âm thầm để khóc nàng Nga Hoàng

Bãi rau bị khí lạnh đè ép làm cho đèn chài nhỏ tý,

Gốc cỏ bồng hơi thu ghê rợn làm cho mái tóc lữ thứ điểm vàng.

Chợt qua ngoài lùm cây, vượn leo trên mấy ngọn núi cao,

Khúc ca Thương Lương dứt tiếng, mặt nước sông man mác

Bài thơ vốn đề vịnh một bức tranh song đã mang vào đó cả tiếng “than”, tiếng “khóc” của mưa trong đêm dài lạnh lẽo, phủ lên cảnh vật cả một màu buồn “thương thương”, “mang mang” của lòng người - kẻ lữ thứ bạc đầu vì phiêu bạt. Tuy nhiên, trong thơ, Đặng Trần Côn vẫn giữ một đôi mắt nhìn sự vật đầy khám phá, khiến cho những cảnh trí đơn sơ cũng như được hiện ra trong một vẻ đẹp mới lạ. Chính điều đó đã làm nên những nốt nhấn, những điểm sáng giữa một dòng xúc cảm chân thành:

Ngư ông mê khước lô hoa chử,

Hướng dạ quy lai ngọc mãn xoa

(Ông chài lạc cả đường về bến hoa lau,

Đêm về đến nơi thì ngọc tuyết giắt đầy tấm áo lá)

Tất cả những đặc sắc đó của thơ và phú sẽ được thể hiện trọn vẹn trong áng trữ tình trường thiên Chinh phụ ngâm dài tới 477 câu của ông.

Chinh phụ ngâm là tác phẩm thuộc về thời đại đặc biệt trong cả lịch sử xã hội cũng như lịch sử văn học Việt Nam. Đó là thời đại của sự tồn tại trái khoáy đầy thách thức với những nguyên tắc của đạo lý Nho gia “Thiên vô nhị nhật, quốc vô nhị quân” của hai ngôi chúa - chúa Trịnh Đàng Ngoài và chúa Nguyễn Đàng Trong bên cạnh ngôi vua Lê lúc này đã trở thành tượng gỗ; kèm theo đó là những cuộc nội chiến hao người tốn của liên miên suốt mấy trăm năm. Bước sang thế kỷ XVIII - “Thế kỷ nông dân khởi nghĩa” tình hình càng trở nên phức tạp và căng thẳng hơn. Tuy nhiên, cũng trong thời đại này, kinh tế đô thị đã dần hình thành và phát triển, tạo nên những mảng màu tươi mới và đa sắc hơn trong lòng xã hội phong kiến, làm tiền đề cho sự manh nha những tư tưởng và cảm xúc mới của thời đại.

Chinh phụ ngâm được sáng tác vào khoảng những năm 40 của thế kỷ XVIII và ngay lập tức được đánh giá rất cao, thậm chí tạo ra “cơn sốt” diễn âm kéo dài ít nhất là đến đầu thế kỷ XIX. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí viết: “Sách Chinh phụ ngâm là bởi Hương cống Đặng Trần Côn soạn, nhân đầu đời Cảnh Hưng, việc binh nổi dậy khiến người ta đi đánh phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra”. Phan Huy Ích thì ca ngợi:

Nhân Mục tiên sinh Chinh phụ ngâm,

Cao tình dật điệu bá từ lâm.

Cận lai khoái chá đương truyền tụng,

Đa hữu thôi xao vi diễn âm

(Khúc Chinh phụ ngâm của tiên sinh làng Nhân Mục,

Tình cao điệu lạ rải khắp rừng văn.

Gần đây truyền tụng lấy làm thích lắm,

Đã có nhiều kẻ trau dồi lời mà diễn âm)

(Dụ Am ngâm tập - Ngẫu thành)

Phạm Đình Hổ trong Tang thương ngẫu lục lại thể hiện thái độ trọng thị một cách gián tiếp thông qua những giai thoại có phần huyền bí: “Khoảng năm về già, ông làm khúc Chinh phụ ngâm, cả thảy đến mấy nghìn lời”. Làm xong, đưa ông Thì Sĩ xem, ông Ngô thán phục mà rằng: “Văn này đánh đổ cả lão Ngô già này chứ còn gì nữa!”(3). Khúc ngâm ấy người ta sao chép, truyền sang đến hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây nước Tầu. Có người thức giả nói: “Tinh thần trút cả vào đây, tác giả bài này chỉ sống ba mươi năm nữa thì chết”. Sau ông làm đến chức quan Ngự sử rồi mất đúng như lời đoán trên ấy”.(4)

Chúng ta biết rằng, đầu đời Cảnh Hưng tức là năm 1740. Trong triều, vua Lê Hiển Tông lên ngôi; Trịnh Giang bị truất, Trịnh Doanh lên thay. Mối đe dọa cụ thể và trực tiếp hơn đến đời sống mỗi cá nhân là những cuộc khởi nghĩa nông dân nổi lên khắp tứ trấn. Chinh phụ ngâm đã biểu đạt được không khí của cả thời đại đầy biến động ấy. Gắn bó từ thuở ấu thơ và rồi tiếp tục những tháng năm của tuổi hoa niên đèn sách, những năm cuối đời ở chức Ngự sử đài chiếu khám, thậm chí, kể cả lúc được bổ tri huyện ở Thanh Oai cách kinh thành không xa, có thể nói, Đặng Trần Côn cảm nhận được rất rõ tình thế nguy nan “tứ diện thụ địch” lúc này của Thăng Long. Đây chính là hoàn cảnh thích hợp nhất cho việc thể hiện trong văn chương lòng yêu tha thiết đối với mảnh đất lịch sử oai hùng và thân thuộc, nỗi lo lắng đến sự an nguy của đất nước, những chiêm nghiệm về thời thế... Nhưng đồng thời, mẫn cảm nghệ sĩ cũng đã cho Đặng Trần Côn cảm nhận được một hiện thực khác đằng sau khói lửa chiến tranh - nỗi lòng của những người ở lại, những xúc cảm dồn nén của người thiếu phụ chốn phòng khuê khắc khoải chờ chồng cùng những ước mong thầm kín về tình yêu, hạnh phúc. Chạm đến miền tâm tư ấy, khúc ngâm đã làm vang lên những âm hưởng hoàn toàn khác so với văn chương “tải đạo”

0 Bình luận

Gửi bình luận:

Click here to cancel reply
Họ và tên
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Thư điện tử
Tỉnh thành